Sức khỏe Bệnh Phổi: bệnh phổi tắc nghẽn

Trang thông tin y học sức khỏe Bệnh Phổi

Chia sẻ kiến thức mang tính tham khảo về Bệnh Phổi và các lĩnh vực liên quan

Bệnh hô hấp

Bệnh Phổi mạn tính, Bệnh Phổi nhiễm trùng, Bệnh Phổi nghề nghiệp...

Dịch tễ, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh Lao

"Chỉ có nắm vững được tình hình bệnh phổi trong nước mới chẩn đoán bệnh lao ít sai lầm" - Cố GS Phạm Ngọc Thạch

Nghiên cứu khoa học

Chia sẻ các bài báo, phương pháp nghiên cứu khoa học

Phục hồi chức năng hô hấp

Phục hồi chức năng hô hấp

Showing posts with label bệnh phổi tắc nghẽn. Show all posts
Showing posts with label bệnh phổi tắc nghẽn. Show all posts

Gây dính màng phổi


Gây dính màng phổi

Chỉ định vs Chống chỉ định

                                                                                          
TDMP do bệnh lý ác tính
Lượng dịch tái phát > 500ml/24 giờ
 Giảm số lần chọc hút DMP
 Giảm triệu chứng
 Cải thiện chất lượng cuộc sống
TKMP:
• Hút dẫn lưu sau 5 ngày không hiệu quả
• TKMP tái phát
• TKMP ở BN xơ phổi, GPN, kén khí phổi, kén khí MP
• TKMP ở người có nguy cơ tái phát TKMP
Chống Chỉ Định
Không đặt được DLMP do RL đông máu nặng
2. Khoang MP vách hóa nhiều
3. Tắc nghẽn PQ  phổi không nở được hoàn toàn
4. BN cường giáp có CCĐ gây dính với Povidone Iodine

GÂY DÍNH MP QUA DẪN LƯU

Chuẩn bị bệnh nhân

- BN được đặt DLMP
- TDMP: hút hết DMP trước khi gây dính
- Đảm bảo phổi nở hoàn toàn
- Dùng thuốc giảm đau trước thủ thuật 15 Phút

Chuẩn bị thuốc

1. Natriclorua 0,9% 250ml: 1 chai
2. Lidocain 2% 2ml: 10 ống
3. Atropin 1/4mg: 2 ống
4. Pefalgan 1g: 1 lọ
5. Feldene 20mg: 1 ống

Chuẩn bị dụng cụ:

Hộp chống sốc
Găng vô trùng: 1 đôi
Găng sạch: 2 đôi
Gạc N2: 2 gói
Cồn iode 1,5%: 200ml
Bơm ăn 50ml: 1 cái
Bơm tiêm 10ml: 1 cái
Bơm tiêm 20ml: 1 cái
Dây truyền: 1 bộ                                              

 Chuẩn bị dung dịch bột talc gây dính:

5-10g bột talc
100ml Natriclorua 0,9%
10ml Lidocain 2%

Chuẩn bị dung dịch gây dính Povidone iodine

20ml Povidone iodine 10%
80ml Natriclorua 0,9%
10ml Lidocain 2%

Ngâm đầu nối ODL trong DD sát khuẩn
Tháo đầu nối ODL, bơm DD gây dính vào khoang MP
• Kẹp DL 2 giờ
• BN thay đổi tư thế mỗi 10 phút
• Sau 2 giờ hút liên tục AL -15 đến -20 cmH2O

Theo dõi:
• TCLS: đau ngực, khó thở, nhiệt độ, M, HA
• TKMP: Theo dõi dẫn lưu khí, chụp Xq phổi
- Còn TKMP → gây dính bổ sung
- Hết khí → kẹp ODL 24h → chụp lại Xq phổi hết khí → rút ODL
• TDMP:
– Dịch DL < 100ml/24h → Rút ODL
– Lượng dịch tái phát > 100ml/24 → GDMP bổ Sung

Dự phòng và tiên lượng COPD

Bệnh Phổi tắc nghẽn mạn tính không thể chữa được nhưng có thể phòng ngừa

Dự phòng

COPD không thể chữa được nhưng có thể phòng ngừa, để dự phòng COPD cần phải:
  • Không hút thuốc, nếu có hút thuốc thì hãy bỏ thuốc ngay.
  • Hạn chế tiếp xúc với khói thuốc bằng cách không cho phép hút thuốc trong nhà hoặc ngồi ở khu vực không hút thuốc khi đi ra ngoài. Bạn cũng nên tránh khói do củi cháy hoặc cho nấu ăn.
  • Hạn chế không khí ô nhiễm trong nhà.
  • Tránh bị nhiễm trùng hô hấp trong khi bị cảm cúm. Bạn cũng nên thường xuyên rửa tay do virus có thể di chuyển từ từ tay qua miệng do tiếp xúc.
  • Đấu tranh cho không khí trong lành để giảm bớt số người bị COPD do ô nhiễm môi trường.

Tiên lượng

Đối với những người bị COPD nhẹ, tiên lượng thường khả quan. Ở những trường hợp nặng hơn thì tiên lượng cũng xấu hơn. Đối với những người phải vào phòng săn sóc tích cực (ICU) do cơn cấp thì tỷ lệ tử vong là 24%. Tỷ lệ này tăng lên gấp đôi ở những người 65 tuổi hoặc lớn hơn. Tiên lượng tử vong do COPD dựa vào những điểm sau:
  • Tuổi tác
  • Tiếp tục hút thuốc
  • Tiếp tục giảm FEV1
  • Tắc nghẽn đường dẫn khí từ trung bình đến nặng
  • Đáp ứng kém với thuốc giãn phế quản
  • Thiếu oxy máu nặng
  • Tăng áp lực CO2 động mạch.
  • Tăng áp phổi (suy tim phải).
  • Suy chức năng toàn thể.

Phẫu thuật điều trị Bệnh Phổi tắc nghẽn



Hiện nay, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chủ yếu điều trị nội khoa. Phẫu thuật điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang được nghiên cứu và tưng bước áp dụng.

Phẫu thuật

Trong vòng 50-75 năm gần đây, nhiều phương pháp phẫu thuật đã được thử để cải thiện triệu chứng và phục hồi chức năng của phổi ở những người bị khí phế thũng nhưng chỉ có mổ cắt bóng khí và có thể là phẫu thuật làm giảm thể tích phổi được chứng minh là có hiệu quả.

Mổ cắt bóng khí

Là phẫu thuật cắt những bóng khí lớn ở phổi do khí phế thũng nằm ở phần ngoại vi của phổi. Phẫu thuật này được xem là phẫu thuật tiêu chuẩn trong nhiều năm. Bóng khí ở những bệnh nhân bị khí phế thũng thường có kích thước thay đổi từ 1 - 4 cm đườn kính, tuy nhiên, bóng khí có thể chiếm hơn 33% nửa ngực.
Các bóng khí có thể chèn ép những nhu mô phổi gần kề, giảm lượng máu đến và giảm thông khí cho những mô khỏe mạnh. Loại bỏ những bóng khí này sẽ giúp phần phổi bị chèn ép nở ra và chức năng được cải thiện.

Phẫu thuật cắt phổi

Lần đầu tiên được thực hiện cách đây gần 40 năm.
Thông thường, phẫu thuật viên sẽ lấy đi 20-30% từ phần trên của mỗi phổi, là khu vực thường bị thương tổn nhiều nhất do khói thuốc. Người ta lý giải rằng việc lấy đi phần phổi bị bệnh sẽ làm tăng đường kính đường dẫn khí ở những phần phổi còn lại và do đó sẽ cải thiện chức năng phổi và thông khí, do đó, sẽ làm giảm triệu chứng.
Thủ thuật này có tỷ lệ tử vong từ 0 - 8% và một số biến chứng.
Tiêu chuẩn để xác định những ai nên phẫu thuật gần đây đã được công bố. Nói chung, tất cả những người nên phẫu thuật là những người có những triệu chứng của khí phế thũng nặng, phì đại đường thở và bóng khí do khí phế thũng một cách nhanh chóng, và bằng chứng của khí phế thũng trên HRCT.
Một nghiên cứu tiền cứu đa trung tâm lớn vừa mới được hoàn thành cho thất những bệnh nhân bị bệnh phổi ở thùy trên và dung nạp kém với vận động thể lực có thể được hưởng lợi từ phương pháp này.

Ghép phổi

Ghép phổi là cách điều trị tương đối mới đối với những bệnh nhân bị bệnh phổi nặng.
Những người bị COPD nằm trong nhóm lớn nhất những người được ghép. Thời gian ghép rất khó xác định, nhưng những người được lựa chọn để ghép là những người chỉ còn có thể sống được dưới 2 năm nữa do COPD nếu không được ghép.

Điều trị Bệnh Phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh Phổi tắc nghẽn mạn tính cần điều trị lâu dài, thường xuyên, mục tiêu là ngăn chặn đợt bùng phát của bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Các bác sĩ có thể cho rằng bạn cần phải dùng thuốc để giảm bớt các triệu chứng của bệnh.

Điều trị Bệnh Phổi tắc nghẽn mạn tính bao gồm

Cai thuốc lá là yêu cầu cần thiết để loại bỏ yếu tố nguy cơ




Corticoid hít

Một số người bị COPD đáp ứng tốt với corticoid đường uống có thể duy trì trong thời gian dài với corticoid hít.
Việc sử dụng loại thuốc này rất phổ biến mặc dù bằng chứng về hiệu quả của nó đối với COPD cũng rất ít. Corticoid không làm chậm lại quá trình suy giảm chức năng phổi. Tuy nhiên, chúng làm giảm tần số xuất hiện cơn và cải thiện tính chất bệnh cùng với chất lượng sống ở một số bệnh nhân COPD.
Corticoid dạng hít có ít tác dụng phụ hơn dạng uống, nhưng chúng cho hiệu quả thấp hơn, ngay cả khi được sử dụng với liều cao.

Thuốc đồng vận Beta 2 - thuốc giãn phế quản

Thuốc giãn phế quản đồng vận beta 2 dạng hít có tác dụng làm giãn và thông đường thở. Chúng có tác dụng nhanh, thường là trong vài phút.
Thuốc đồng vận beta 2 được dùng chủ yếu để giảm triệu chứng của COPD. Đồng vận beta 2 dạng hít là cách điều trị lựa chọn cho cơn COPD cấp.
Có 2 loại đồng vận beta 2 tác dụng kéo dài (formoterol, salmeterol) được sử dụng. Chúng có thể có ích nếu như bạn thường dùng loại tác dụng ngắn hoặc bạn thấy xuất hiện triệu chứng vào ban đêm.

Thuốc ức chế đối giao cảm - giãn phế quản

Duy trì điều trị bằng thuốc kháng đối giao cảm dạng xịt (ipratropium bromide) có thể sẽ hiệu quả hơn đồng vận beta 2 đối với những bệnh nhân COPD, đặc biệt trong việc giảm thở hụt hơi.
Ipratropium bromide làm thông đường thở nhưng có ít tác dụng phụ.
Nó được cho dưới dạng bình xịt có định liều, khoảng 2 - 4 nhát, 4 lần mỗi ngày. Có thể cho thêm đồng vận beta 2 nếu cần thiết.
Mặc dù nó cho tác dụng chậm hơn đồng vận beta 2 dạng hít (khoảng 30 - 60 phút), nhưng tác dụng của nó lại kéo dài hơn. Do đó nó không thích hợp để dùng với mục đích khẩn cấp.
Những người bị cơn COPD cấp đáp ứng tốt với đồng vận beta 2 dạng hít và kháng đối giao cảm dạng xịt. Việc điều trị thường là bắt đầu với việc cho đồng vận beta 2 dạng hít qua máy xông. Cho thuốc dạng này cũng làm giảm tác dụng phụ. Ipratropium bromide dạng xịt cũng thường có thể được thêm vào.

Thuốc dãn phế quản tác dụng kéo dài

Methylxanthine, chẳng hạn như theophylline, là một nhóm thuốc có liên quan đến caffein. Chúng tác động trên bệnh COPD bằng cách làm thông đường thở. Ngoài ra, methylxanthine làm giảm viêm, cải thiện chức năng cơ hô hấp, kích thích trung tâm hô hấp của não.
Thêm theophyline vào nhóm thuốc dãn phế quản có thể có ích mặc dù đáp ứng với theophyline khác nhau tùy theo mỗi bệnh nhân. Tuy nhiên người ta ngày càng ít sử dụng chúng trong thập kỷ vừa qua do nguy cơ xảy ra những tác dụng phụ không mong muốn. Những tác dụng phụ bao gồm: bứt rứt, run giật, buồn ngủ, nôn ói, loạn nhịp tim và đột quỵ.

Corticoid dạng uống

Corticoid được dùng với những người không cải thiện sau khi đã dìmh các loại thuốc khác hoặc những người đang lên cơn cấp tính.
Corticoid dạng uống được dùng điều trị thành công ở những người bị cơn cấp tính. Chúng cải thiện triệu chứng và chức năng của phổi trong những trường hợp này. Corticoid dạng uống thường không được khuyến khích dùng trong thời gian dài do những phản ứng phụ của chúng.

Kháng sinh

Những bệnh nhân COPD thường hay bị nhiễm trùng đường hô hấp dưới, mục đích của kháng sinh không phải là để ngăn chặn vi trùng mà là điều trị những cơn cấp.
Điều trị bằng kháng sinh có lợi cho những người bị cơn cấp với ít nhất 2 trong số những triệu chứng sau (tiêu chuẩn Winnipeg): thở hụt hơi tăng nhiều, tăng sản xuất đàm, tăng xuất tiết đàm.
Loại thuốc được lựa chọn đầu tiên bao gồm amoxicillin, cefaclor, hoặc trimethoprim/sulfamethoxazole. Thứ hai là azithromycin, clarithromycin, và fluoroquinolone.

Thuốc long đờm

Thuốc làm loãng đàm không chỉ làm giảm độ đặc của đàm mà còn tăng độ thanh thải của nó nữa.

Oxy

COPD thường đi kèm với thiếu oxy máu.
Trong nhiều trường hợp, triệu chứng thiếu oxy máu không xuất hiện lúc bệnh nhân nghỉ ngơi mà là vào lúc họ gắng sức. Ngay cả khi những nghiên cứu xác định ích lợi lâu dài của việc thở oxy đơn độc đối với các hoạt động thể lực vẫn chưa được tiến hành thì việc cho thở oxy tại nhà vẫn thường được các bác sĩ khuyên dùng đối với những người bị giảm oxy máu khi gắng sức. Thở oxy khi gắng sức có thể giúp làm tăng áp lực động mạch phổi, giảm triệu chứng thở hụt hơi và tăng khả năng vận động.
Việc thở oxy đối với những bệnh nhân COPD cũng có thể cần thiết trong khi đi máy bay do áp suất trong cabin máy bay thấp. Bạn có thể chuẩn bị cho chuyến bay bằng cách thở oxy trước khi khởi hành.
Những bệnh nhân COPD bị thức dậy giữa chừng bởi những triệu chứng của nó cũng có thể cần phải thở oxy.
Thở oxy thường thì an toàn. Người ta đã nhận biết được độc tính của oxy liều cao, nhưng vẫn tìm thấy rất ít những tác hại lâu dài của thở oxy liều thấp. Do việc thở oxy lâu dài làm giảm tỷ lệ tử vong với những người bị COPD nặng, tăng khả năng sống còn và chất lượng sống đã lấn át những nguy cơ có thể xảy ra.
Mối nguy hiểm lớn nhất của liệu pháp này là cháy và nổ. Những bệnh nhân COPD, gia đình, và người chăm sóc không nên hút thuốc khi máy thở oxy đang được sử dụng. Tuy nhiên, xét trên tổng thể thì những tai nạn lớn thường hiếm gặp và có thể tránh nếu được huấn luyện kỹ càng.

Tổng quan điều trị Bệnh Phổi tắc nghẽn



Tổng quan điêu trị COPD


Khi đã có triệu chứng và được chẩn đoán mắc Bệnh Phổi tắc nghẽn mạn tính, người bệnh cần tuân thủ những nguyên tắc điều trị để ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh và sự bùng phát hay còn gọi là Đợt cấp của Bệnh Phổi tắc nghẽn mạn tính. Mục tiêu điều trị đối với COPD là cải thiện chất lượng sống bằng cách phòng ngừa các triệu chứng và cơn nặng của bệnh, do đó bảo toàn chức năng tối ưu của phổi.
Nếu bị chẩn đoán là COPD, bạn nên tìm hiểu kỹ về bệnh của mình và tham gia tích cực vào chương trình điều trị. Hiện nay có rất nhiều câu lạc bộ Bệnh Phổi tắc nghẽn mạn tính như CMU (ở Bệnh viện Phổi Trung ương) , câu lạc bộ ở Bệnh viện Phổi Hà Nội, và ở các địa phương khác...

Điều trị Bệnh Phổi tắc nghẽn tại nhà

Ngừng hút thuốc là việc quan trọng nhất bạn có thể làm để cải thiện tình hình. Theo thống kê dịch tễ học, hHầu hết những bệnh nhân bị COPD là những người đang hút thuốc hoặc đã từng hút thuốc trước đây. Kế hoạch ngừng hút thuốc là một phần cơ bản trong toàn bộ kế hoạch điều trị. Tuy nhiên, tỷ lệ bỏ thuốc thành công vẫn thấp do những nguyên nhân sau:
  • Sức gây nghiện của nicotine.
  • Đáp ứng của cơ thể với những tác nhân kích thích liên quan đến khói thuốc.
  • Vấn đề tâm lý, bao gồm stress, trình độ văn hóa thấp, và những chiến dịch phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp thuốc lá.

Quá trình chuyển từ hút thuốc sang không hút thuốc về cơ bản gồm 5 giai đoạn:


  • Trước khi suy tính
  • Suy tính
  • Chuẩn bị
  • Hành động
  • Duy trì

Tiến trình bỏ thuốc có thể có sự can thiệp của nhiều phía, bao gồm:

  • Bản thân
  • Nhóm
  • Bác sĩ
  • Nơi làm việc
  • Các chương trình cộng đồng.

Một chương trình bỏ thuốc thành công thường dùng các nguồn trợ lực sau:

  • Giáo dục sức khỏe
  • Theo dõi
  • Phòng tái phát
  • Những lời khuyên về thay đổi lối sống
  • Chương trình hỗ trợ của xã hội
  • Điều trị phụ thêm (chẳng hạn như uống thuốc)

Điều trị Bệnh Phổi tắc nghẽn Tại bệnh viện

Ba mục tiêu chính của việc điều trị COPD là:

  • Giảm giới hạn thông khí
  • Phòng ngừa và điều trị những biến chứng (như suy hô hấp, giảm oxy máu, nhiễm trùng, suy tim...).
  • Giảm triệu chứng hô hấp và cải thiện chất lượng sống.
Đợt cấp của COPD là một trong những nguyên nhân chính khiến bệnh nhân phải nhập viện.
Bạn có thể phải cần nhập viện nếu bị suy chức năng hô hấp nặng, nếu bệnh tiến triển, hoặc nếu bạn có một bệnh về hô hấp nghiêm trọng khác (như viêm phổi, viêm phế quản cấp). Mục tiêu nhập viện là để điều trị triệu chứng và ngăn ngừa diễn tiến xấu hơn).
Có thể bạn sẽ phải vào phòng săn sóc tích cực (ICU - Intensive care unit) nếu cần phải thở máy xâm lấn hoặc không xâm lấn hoặc nếu có những triệu chứng sau:
  • Lú lẫn
  • Lơ mơ
  • Mỏi cơ hô hấp
  • Thiếu oxy máu nặng
  • Toan hô hấp (tình trạng tích trữ CO2 trong máu)
 

Khám và Xét nghiệm Bệnh Phổi tắc nghẽn



KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM BỆNH
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có tiến triển chậm, và từ từ. Các triệu chứng của bệnh COPD ở giai đoạn đầu thường mờ nhạt, ho húng hắng, khạc đờm ít... nên người bệnh có thể bỏ qua. Đến giai đoạn tiến triển tiếp theo, các triệu chứng của bệnh COPD trở lên rõ rệt hơn. Bạn nên đến gặp bác sĩ nếu có những triệu chứng của COPD, đặc biệt là khi bạn thấy mình thở trở nên khó khăn.


KHÁM VÀ XÉT NGHIỆM BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN

Bác sĩ sẽ thực hiện nhiều phương pháp khác nhau để xác định xem bạn có bị COPD hay không cũng như cách điều trị tốt nhất dành cho bạn.
  • Bạn sẽ được hỏi về triệu chứng của mình, bạn cũng sẽ được hỏi xem đã từng hút thuốc hay không, hiện nay có hút không hoặc có đang tiếp xúc với khói thuốc hay không khí ô nhiễm không.
  • Sau đó bạn sẽ được khám, tuy rằng việc khám bệnh thường không đủ nhạy cảm để phát hiện ra COPD mức độ từ nhẹ đến trung bình nhưng đủ khả năng để phát hiện ra COPD mức độ nặng. Bệnh nhân bị COPD nặng sẽ thở nhanh, khó thở khi thực hiện những hành động đơn giản.
  • Một mẫu đờm của bạn sẽ được lấy và gửi đến phòng xét nghiệm để phân tích.
  • Bạn có thể sẽ được chụp X-quang ngực hay CT. CT có thể sẽ cho những hình ảnh chi tiết hơn X-quang. Và nó rất hữu ích trong việc phát hiện ra khí phế thũng và thể của khí phế thũng (khí phế thũng trung tâm tiểu thùy, khí phế thũng ngoại vi hay khí phế thũng toàn thể).
  • Bạn cũng có thể được thực hiện test đo chức năng hô hấp đánh giá chức năng hô hấp do nó có thể phát hiện và tiếp cận được những bệnh phổi nặng. Test đo chức năng hô hấp này cũng có ích trong việc theo dõi diễn tiến của bệnh phổi. Một dụng cụ được gọi là phế dung ký sẽ được dùng để đánh giá chức năng hô hấp giúp khảo sát chức năng phổi và đo lượng không khí bạn có thể hít vào và lượng không khí cùng với tốc độ mà bạn có thể thở ra.
  • Bạn cũng có thể được thử khí máu động mạch. Xét nghiệm này sẽ đo lường khả năng chuyển oxy vào máu và lấy CO2 ra ngoài của phổi. Bệnh nhân mắc COPD mạn tính thường có tình trạng tăng CO2 trong khí máu động mạch. Giá trị bình thường của CO2 khí máu động mạch ở mức 40mmHg.
Bạn cũng có thể sẽ được gắn vào ngón tay một thiết bị đo phần trăm oxy bão hòa trong  máu. Đó là bộ đo SpO2, giá trị bình thường ở mức >= 90%

Triệu chứng của Bệnh Phổi tắc nghẽn

Triệu chứng của Bệnh Phổi tắc nghẽn

Triệu chứng của COPD thường không tiến triển nhanh trong thời gian đầu. Các triệu chứng sẽ xuất hiện từ từ trong một thời gian dài. Ngay cả ở những người hút thuốc thì triệu chứng cũng xuất hiện khá muộn. Hầu hết những người bị COPD hút thuốc ít nhất 10 - 20 điếu mỗi ngày trong 20 năm hoặc hơn trước khi thấy triệu chứng. Do đó, thường thì COPD không được chẩn đoán cho đến khoảng 40 - 49 tuổi.

Những dấu hiệu và triệu chứng thường gặp của COPD bao gồm:

  • Ho dai dẳng hoặc cấp tính.
  • Khó thở hoặc thở hơi ngắn là triệu chứng có ý nghĩa nhất, nhưng nó thường không xuất hiện cho đến khoảng 50-59 tuổi.
  • Thở khò khè (có tiếng rít trong khi thở), đặc biệt là khi gắng sức hoặc lúc triệu chứng trở nặng.

Những triệu chứng sau có thể xảy ra khi tình trạng bệnh nhân nặng hơn:

  • Khoảng thời gian giữa các đợt khó thở ngắn hơn.
  • Tím tái hoặc suy tim phải có thể xảy ra.
  • Chán ăn và sụt cân đôi khi có thể xảy ra và là dấu hiệu tiên lượng nặng.

Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ (ATS - American Thoracic Society) đề ra 3 giai đoạn nặng của COPD dựa theo chức năng phổi:

  • Giai đoạn I: FEV1 bằng hoặc lớn hơn 50% giá trị dự đoán.
  • Giai đoạn II: FEV1 từ 35 - 49% giá trị dự đoán.
  • Giai đoạn III: FEV1 dưới 35% giá trị dự đoán.