Sức khỏe Bệnh Phổi

Trang thông tin y học sức khỏe Bệnh Phổi

Chia sẻ kiến thức mang tính tham khảo về Bệnh Phổi và các lĩnh vực liên quan

Bệnh hô hấp

Bệnh Phổi mạn tính, Bệnh Phổi nhiễm trùng, Bệnh Phổi nghề nghiệp...

Dịch tễ, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh Lao

"Chỉ có nắm vững được tình hình bệnh phổi trong nước mới chẩn đoán bệnh lao ít sai lầm" - Cố GS Phạm Ngọc Thạch

Nghiên cứu khoa học

Chia sẻ các bài báo, phương pháp nghiên cứu khoa học

Phục hồi chức năng hô hấp

Phục hồi chức năng hô hấp

HƯỚNG DẪN CÁCH TRÍCH DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ LẬP DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

HƯỚNG DẪN CÁCH TRÍCH DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO 
 VÀ LẬP DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu tham khảo
- Tài liệu tham khảo bao gồm các tài liệu được trích dẫn, sử dụng và đề cập trong luận văn, luận án, khóa luận, bài báo....
- Trích dẫn tham khảo có ý nghĩa quan trọng đối với báo cáo nghiên cứu khoa học (làm tăng giá trị đề tài nghiên cứu nhờ có đối chiếu, tham khảo, so sánh,... với các nguồn tài liệu từ bên ngoài, thể hiện rõ nguồn gốc các thông tin thu thập được) và với người viết báo cáo (phát triển năng lực nghiên cứu: nhờ quá trình tìm kiếm và chọn lọc những thông tin có chất lượng, giúp làm tăng khả nặng tự học, tự tìm kiếm thông tin và khai thác thông tin; bồi dưỡng ý thức đạo đức nghề nghiệp, tránh hành động đạo văn...). Có hai cách trích dẫn phổ biến nhất là trích dẫn theo “tên tác giả - năm” (hệ thống Havard) và trích dẫn theo chữ số (hệ thống Vancouver) là cách hiện đang được Bộ Giáo dục và  Đào tạo Việt Nam lựa chọn.
- Nguồn trích dẫn phải được ghi nhận ngay khi thông tin được sử dụng. Nguồn trích dẫn có thể được đặt ở đầu, giữa hoặc cuối một câu, cuối một đoạn văn hay cuối một trích dẫn trực tiếp (ví dụ hình vẽ, sơ đồ, công thức, một đoạn nguyên văn).
2. Các hình thức và nguyên tắc trích dẫn tài liệu tham khảo
2.1. Hình thức trích dẫn
- Trích dẫn trực tiếp là trích dẫn nguyên văn một phần câu, một câu, một đoạn văn, hình ảnh, sơ đồ, quy trình,… của bản gốc vào bài viết. Trích dẫn nguyên văn phải bảo đảm đúng chính xác từng câu, từng chữ, từng dấu câu được sử dụng trong bản gốc được trích dẫn. “Phần trích dẫn được đặt trong ngoặc kép”, [số TLTK] đặt trong ngoặc vuông. Không nên dùng quá nhiều cách trích dẫn này vì bài viết sẽ nặng nề và đơn điệu.
- Trích dẫn gián tiếp là sử dụng ý tưởng, kết quả, hoặc ý của một vấn đề để diễn tả lại theo cách viết của mình nhưng phải đảm bảo đúng nội dung của bản gốc. Đây là cách trích dẫn được khuyến khích sử dụng trong nghiên cứu khoa học. Khi trích dẫn theo cách này cần cẩn trọng và chính xác để tránh diễn dịch sai, đảm bảo trung thành với nội dung của bài gốc.
- Trích dẫn thứ cấp là khi người viết muốn trích dẫn một thông tin qua trích dẫn trong một tài liệu của tác giả khác. Ví dụ khi người viết muốn trích dẫn một thông tin có nguồn gốc từ tác giả A, nhưng không tìm được trực tiếp bản gốc tác giả A mà thông qua một tài liệu của tác giả B. Khi trích dẫn theo cách này không liệt kê tài liệu trích dẫn của tác giả A trong danh mục tài liệu tham khảo. Một tài liệu có yêu cầu khoa học càng cao thì càng hạn chế trích dẫn thứ cấp mà phải tiếp cận càng nhiều tài liệu gốc càng tốt.
2.2. Một số nguyên tắc về trích dẫn tài liệu tham khảo
- Tài liệu tham khảo có thể được trích dẫn và sử dụng trong các phần đặt vấn đề, tổng quan, phương pháp nghiên cứu, bàn luận. Phần giả thiết nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, kết luận, kiến nghị không sử dụng tài liệu tham khảo.
- Cách ghi trích dẫn phải thống nhất trong toàn bộ bài viết và phù hợp với cách trình bày trong danh mục tài liệu tham khảo.
- Việc trích dẫn là theo thứ tự của tài liệu tham khảo ở danh mục Tài liệu tham khảo và được đặt trong ngoặc vuông, khi cần có cả số trang, ví dụ [15, 314-315]. Đối với phần được trích dẫn từ nhiều tài liệu khác nhau, số của từng tài liệu được đặt độc lập trong từng ngoặc vuông và theo thứ tự tăng dần, cách nhau bằng dấu phảy và không có khoảng trắng, ví dụ [19],[25],[41].
- Việc sử dụng hoặc trích dẫn kết quả nghiên cứu của người khác, của đồng tác giả phải được dẫn nguồn đầy đủ và rõ ràng. Nếu sử dụng tài liệu của người khác (trích dẫn bảng, biểu, công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) mà không chú dẫn tác giả và nguồn tài liệu thì luận án không được duyệt để bảo vệ. 
- Không ghi học hàm, học vị, địa vị xã hội của tác giả vào thông tin trích dẫn.
- Tài liệu được trích dẫn trong bài viết phải có trong danh mục tài liệu tham khảo.
- Tài liệu được liệt kê trong danh mục tham khảo phải có trích dẫn trong bài viết.
- Không trích dẫn tài liệu mà người viết chưa đọc. Chỉ trích dẫn khi người viết phải có tài liệu đó trong tay và đã đọc tài liệu đó. Không nên trích dẫn những chi tiết nhỏ, ý kiến cá nhân, kinh nghiệm chủ quan, những kiến thức đã trở nên phổ thông.
- Khi một thông tin có nhiều người nói đến thì nên trích dẫn những nghiên cứu/ bài báo/ tác giả có tiếng trong chuyên ngành.
3. Xây dựng và cách trình bày danh mục tài liệu tham khảo
- Danh mục tài liệu tham khảo được sắp xếp theo trình tự sử dụng (trích dẫn) trong luận văn, luận án, bài viết...không phân biệt tiếng Việt, Anh, Pháp...Tài liệu tham khảo được trích dẫn theo số (đã được xác định trong danh mục tài liệu tham khảo), không theo tên tác giả và năm. Các tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải giữ nguyên văn, không phiên âm, không dịch. Những tài liệu viết bằng tiếng nước ngoài ít người Việt biết thì có thể ghi thêm phần tiếng Việt đi kèm theo mỗi tài liệu. Không nên dùng luận văn, luận án, Website và hạn chế dùng sách giáo khoa làm tài liệu tham khảo.
3.1. Tài liệu tham khảo là bài báo trong tạp chí, tập san được trình bày như­ sau:
Họ và tên tác giả được viết đầy đủ đối với tên người Việt Nam; Họ (viết đầy đủ), tên gọi và tên đệm (viết tắt) đối với tên người nước ngoài. Nếu bài báo có nhiều tác giả, cần ghi tên 3 tác giả đầu và cộng sự (et al-tiếng Anh), năm xuất bản (trong ngoặc đơn). Tên bài báo. Tên tạp chí, tập san (ghi nghiêng), tập (số, không có dấu ngăn cách, đặt trong ngoặc đơn, dấu phẩy sau ngoặc đơn), các số trang (gạch nối giữa hai số, dấu chấm kết thúc). Ví dụ:
1. Nguyễn Kim Sơn, Phạm Hùng Vân, Nguyễn Bảo Sơn và cộng sự (2010). Đột biến gen mã hóa EGFR trong ung thư phổi. Tạp chí nghiên cứu y học, 3, 30-37. [1]
2. Amanda B.R, Donna P.A, Robin J.L et al (2008). Total prostate specific antigen stability confirmed after long-term storage of serum at -80C. J.Urol, 180(2), 534-538. [2]
3.2. Tài liệu tham khảo là một chương (một phần) trong cuốn sách ghi như sau:
Họ và tên tác giả hoặc cơ quan ban hành; năm xuất bản (đặt trong ngoặc đơn). Tên phần (hoặc chương), Tên sách (ghi nghiêng, dấu phẩy cuối tên), lần xuất bản (chỉ ghi mục này với lần xuất bản thứ hai trở đi), nhà xuất bản (dấu phẩy cuối tên nhà xuất bản); nơi xuất bản (ghi tên thành phố, không phải ghi tên quốc gia), tập, trang.. Nếu sách có hai tác giả thì sử dụng chữ và (hoặc chữ and) để nối tên hai tác giả. Nếu sách có 3 tác giả trở lên thì ghi tên tác giả thứ nhất và cụm từ cộng sự (hoặc et al.). Ví dụ:
Kouchoukos N.T (2013). Postoperative care. Kirklin/Barratt-Boyes Cardiac Surgery, fourth edition, Elsevier Saunder, Philadenphia, 1, 190-249.[3]Bottom of Form
3.3. Tài liệu tham khảo là sách ghi như sau:
Tên tác giả hoặc cơ quan ban hành; năm xuất bản (đặt trong ngoặc đơn). Tên sách (ghi nghiêng, dấu phẩy cuối), lần xuất bản (chỉ ghi mục này với lần xuất bản thứ hai trở đi), nhà xuất bản (dấu phẩy cuối tên nhà xuất bản); nơi xuất bản (ghi tên thành phố, không phải ghi tên quốc gia, đặt dấu chấm kết thúc). Nếu sách có hai tác giả thì sử dụng chữ và (hoặc chữ and) để nối tên hai tác giả. Nếu sách có 3 tác giả trở lên thì ghi tên tác giả thứ nhất và cụm từ cộng sự (hoặc et al.). Ví dụ:
•      Trần Thừa (1999). Kinh tế học vĩ mô, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
•      Phạm Thắng và Đoàn Quốc Hưng (2007). Bệnh mạch máu ngoại vi, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.[4]
•      Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002). Các văn bản pháp luật về đào tạo sau đại học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
•      Boulding K.E (1995). Economic Analysis, Hamish Hamilton, London
•      Grace B. et al (1988). A history of the world, NJ: Princeton University Press, Princeton.
3.4. Tài liệu tham khảo là luận án, luận văn, khóa luận ghi như sau:
Tên tác giả, năm xuất bản (đặt trong ngoặc đơn). Tên đề tài luận án, luận văn (ghi nghiêng, dấu phẩy cuối tên luận án/luận văn), bậc học, tên chính thức của cơ sở đào tạo. Ví dụ:
- Đoàn Quốc Hưng (2006). Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị ngoại khoa bệnh thiếu máu chi dưới mạn tính do vữa xơ động mạch, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
- Nguyễn Hoàng Thanh (2011). Nghiên cứu mức sẵn sàng chi trả cho cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường tại huyện Kim Bảng, Hà Nam năm 2010, Luận văn Thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội.[5]
3.5. Tài liệu tham khảo là bài báo đăng trong các kỷ yếu của hội nghị, hội thảo, diễn đàn... ghi như sau:
Tên tác giả (năm). Tên bài báo. Tên kỷ yếu/tên hội nghị/diễn đàn (ghi nghiêng),  Địa điểm, thời gian tổ chức, cơ quan tổ chức, số thứ tự trang của bài báo trong kỷ yếu. Ví dụ:
- Nguyễn Đức Chính, Phạm Hải Bằng, Phạm Văn Trung và cs (2013). Nhận xét tình hình bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS điều trị tại bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2010-2012.  Hội nghị khoa học quốc gia về phòng chống HIV/AIDS lần thứ V, Trường Đại học Y Hà Nội ngày 2-3/12/2013, Bộ Y tế, 342-346. [6]
3.6. Tài liệu tham khảo là các giáo trình, bài giảng hay tài liệu lưu hành nội bộ: Cần cung cấp thông tin cơ bản về tên tác giả, năm xuất bản, tên giáo trình, bài giảng, nhà xuất bản (nếu có), đơn vị chủ quản. Ví dụ:
- Tạ Thành Văn (2013). Giáo trình Hóa sinh lâm sàng. Nhà xuất bản Y học, Trường Đại học Y Hà Nội. [7]
- Hội đồng chức danh Nhà nước (2012). Văn bản pháp quy và tài liệu hướng dẫn việc xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2012. Hà Nội, tháng 5 năm 2012.
3.7. Tài liệu tham khảo trích dẫn từ nguồn internet, báo mạng (hết sức hạn chế loại trích dẫn này).
Tên tác giả (nếu có), năm (nếu có). Tên tài liệu tham khảo, <đường dẫn để tiếp cận tài liệu đó>, thời gian trích dẫn. Ví dụ:
- Nguyễn Trần Bạt (2009). Cải cách giáo dục Việt Nam,
- Anglia Ruskin University. Havard system of Referencing Guide. [online] Available at: http://libweb.anglia.ac.uk/referencing/havard.htm [Accessed 12 August 2011]



TÀI LIỆU THAM KHẢO









Ngưng thở khi ngủ trung ương

- Chuyên về y học, dành cho các bác sỹ, dược sỹ, học viên và sinh viên tự đăng bài viết về sức khỏe, trao đổi nội bộ nhằm nâng cao kiến thức phục vụ công việc !

Ngưng thở khi ngủ trung ương xảy ra khi não không truyền tín hiệu đến các cơ hô hấp. Ngưng thở khi ngủ trung ương có thể được gây ra bởi một số điều kiện ảnh hưởng đến khả năng của thân não.

Định nghĩa

Ngưng thở khi ngủ là một rối loạn trong đó thở liên tục dừng lại rồi lại bắt đầu trong khi ngủ. Ngưng thở khi ngủ trung ương xảy ra vì não không gửi tín hiệu thích hợp đến các cơ kiểm soát hơi thở - không giống như ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, trong đó, thở không thể bình thường do tắc nghẽn đường hô hấp trên. Ngưng thở khi ngủ trung ương ít phổ biến hơn, chiếm ít hơn 5% các trường hợp ngưng thở khi ngủ.

Ngưng thở khi ngủ trung ương có thể xảy ra như là kết quả của các điều kiện khác, chẳng hạn như suy tim và đột quỵ. Ngủ ở một độ cao cũng có thể gây ngưng thở khi ngủ trung ương.

Phương pháp điều trị ngưng thở khi ngủ trung ương có thể liên quan đến việc giải quyết điều kiện tạo nên, bằng cách sử dụng một thiết bị hỗ trợ thở hoặc bổ sung oxy.

Các triệu chứng

Các dấu hiệu và các triệu chứng thường gặp của ngưng thở khi ngủ trung ương bao gồm:

Ngừng thở hoặc các kiểu thở bất thường trong khi ngủ.

Thức giấc đột ngột kèm theo khó thở.

Khó thở mà thuyên giảm bằng cách ngồi lên.

Mất ngủ.

Buồn ngủ quá mức vào ban ngày (hypersomnia).

Khó tập trung.

Đau đầu buổi sáng.

Ngủ nggáy.

Mặc dù chứng ngáy cho thấy mức độ tắc nghẽn làm tăng tốc độ luồng không khí, ngáy ngủ cũng có thể được nghe thấy trong sự hiện diện của ngưng thở khi ngủ trung ương. Tuy nhiên, ngáy ngủ có thể không nổi bật với ngưng thở khi ngủ trung ương vì nó là ngừng thở khi ngủ.

Hỏi ý kiến một chuyên gia y tế nếu trải nghiệm, bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng ngưng thở khi ngủ trung ương, đặc biệt sau đây:

Khó thở gây đánh thức giấc ngủ.

Tạm dừng liên tục thở trong khi ngủ.

Khó ngủ.

Buồn ngủ ban ngày quá nhiều, có thể khiến rơi vào giấc ngủ trong khi đang làm việc, xem truyền hình hoặc thậm chí lái xe.

Hãy hỏi bác sĩ về bất kỳ vấn đề về giấc ngủ làm mệt mỏi kinh niên, buồn ngủ và cáu kỉnh. Buồn ngủ ban ngày quá mức (hypersomnia) có thể là do rối loạn khác, chẳng hạn như chứng ngủ rũ hoặc ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn.

Nguyên nhân

Ngưng thở khi ngủ trung ương xảy ra khi não không truyền tín hiệu đến các cơ hô hấp. Ngưng thở khi ngủ trung ương có thể được gây ra bởi một số điều kiện ảnh hưởng đến khả năng của thân não - liên kết bộ não vào cột sống và điều khiển nhiều chức năng như nhịp tim và để kiểm soát hơi thở. Nguyên nhân khác nhau của các loại ngưng thở khi ngủ trung ương. Các loại bao gồm:

Vô căn. Nguyên nhân của chứng ngưng thở khi ngủ trung ương không rõ.

Cheyne - Stokes. Đây là loại ngưng thở khi ngủ trung ương thường kết hợp với suy tim sung huyết hoặc đột quỵ và đặc trưng bởi chu kỳ tăng nhịp điệu dần dần, và sau đó giảm thở. Trong những nhịp thở yếu nhất, thiếu luồng không khí (ngưng thở khi ngủ trung ương) có thể xảy ra.

Tình trạng y tế gây ra tình trạng ngưng thở khi ngủ. Ngoài suy tim sung huyết và đột quỵ, một số điều kiện y tế có thể dẫn đến ngưng thở khi ngủ trung ương. Thiệt hại bất kỳ vùng kiểm soát thở thân não - có thể làm giảm quá trình hô hấp bình thường.

Thuốc gây ra ngưng thở. Thuốc nhất định như thuốc phiện, morphine, oxycodone hoặc codeine có thể gây ra thở không đều, tăng, giảm thường xuyên, hoặc ngừng hoàn toàn.

Độ cao. Cheyne - Stokes có thể xảy ra nếu tiếp xúc độ cao đủ, chẳng hạn như độ cao lớn hơn 15.000 feet (khoảng 4.500 mét). Sự thay đổi khí oxy trong độ cao làm thở nhanh (tăng lý do thông khí) và khó thở.

Ngưng thở khi ngủ phức tạp. Một số người bị ngưng thở tắc nghẽn phát triển thành ngưng thở trung ương trong khi điều trị với thông khí áp suất đường thở dương liên tục (CPAP). Điều này được gọi là ngưng thở khi ngủ phức tạp bởi vì nó là một sự kết hợp của ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn và trung ương.

Các yếu tố nguy cơ

Giới tính. Nam giới nhiều khả năng phát triển ngưng thở khi ngủ trung ương hơn là nữ giới.

Tuổi. Ngưng thở khi ngủ trung ương phổ biến hơn ở người lớn tuổi, có thể bởi vì cùng tồn tại vấn đề y tế hoặc các mô hình giấc ngủ có thể gây ra ngưng thở khi ngủ trung ương.

Rối loạn tim. Những người bị rung nhĩ hoặc suy tim sung huyết có nguy cơ ngưng thở khi ngủ trung ương. Ngưng thở khi ngủ trung ương có thể có mặt đến 40% những người bị suy tim sung huyết.

Tai biến mạch máu não hoặc u não. Các điều kiện này có thể làm giảm khả năng của não điều chỉnh hơi thở.

Độ cao. Ngủ ở độ cao chưa quen có thể làm tăng nguy cơ ngưng thở khi ngủ. Ngưng thở khi ngủ độ cao không còn là vấn đề khi quay trở lại với độ cao thấp hơn.

Opioid. Sử dụng opioid như morphine, oxycodone và codein, làm tăng nguy cơ ngưng thở khi ngủ trung ương.

CPAP. Một số người bị ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn phát triển ngưng thở khi ngủ trung ương trong khi điều trị bằng CPAP (thở áp lực dương liên tục). Điều này được gọi là ngưng thở khi ngủ phức tạp bởi vì nó là sự kết hợp của ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn và trung ương. Đối với một số người, ngưng thở khi ngủ phức tạp vẫn tiếp tục sử dụng CPAP. Những người khác có thể được điều trị bằng thở áp lực dương (PAP).

Các biến chứng

Ngưng thở khi ngủ trung ương là một điều kiện y tế nghiêm trọng. Một số biến chứng bao gồm:

Mệt mỏi. Thức giấc lặp đi lặp lại liên quan với chứng ngưng thở khi ngủ làm cho không thể phục hồi sức khỏe từ giấc ngủ bình thường. Những người ngưng thở khi ngủ trung ương thường trải nghiệm buồn ngủ ban ngày nghiêm trọng, mệt mỏi và khó chịu. Có thể gặp khó trong việc tập trung và rơi vào giấc ngủ tại nơi làm việc, trong khi xem TV hay ngay cả khi lái xe.

Vấn đề tim mạch. Giảm đột ngột nồng độ ôxy trong máu xảy ra trong thời gian ngưng thở khi ngủ trung ương có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch. Nếu có bệnh tim cơ bản, lặp đi lặp lại nhiều lần oxy trong máu thấp (tình trạng thiếu oxy) làm tiên lượng xấu đi và tăng nguy cơ nhịp tim bất thường.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ có thể thực hiện đánh giá dựa trên các dấu hiệu và triệu chứng hoặc có thể giới thiệu đến một trung tâm điều trị rối loạn giấc ngủ. Ở đó, chuyên gia về giấc ngủ có thể giúp quyết định về nhu cầu đánh giá thêm. Đánh giá như vậy thường liên quan đến việc giám sát hơi thở qua đêm và các chức năng cơ thể khác trong khi ngủ.

Trong thử nghiệm polysomnography, kết nối với thiết bị giám sát tim, phổi và hoạt động của não bộ, hít thở các mô hình, cánh tay và di chuyển chân, nồng độ oxy trong máu trong khi ngủ.

Đánh giá của một chuyên gia tim (bác sĩ tim mạch) hoặc một bác sĩ chuyên về hệ thống thần kinh (thần kinh học) cũng có thể là cần thiết để tìm nguyên nhân của chứng ngưng thở khi ngủ trung ương.

Phương pháp điều trị và thuốc

Giải quyết các vấn đề liên quan đến y tế. Nguyên nhân có thể của ngưng thở khi ngủ trung ương bao gồm các rối loạn, và điều trị những điều kiện có thể giúp ngưng thở khi ngủ trung ương. Ví dụ, điều trị thích hợp suy tim có thể loại bỏ ngưng thở khi ngủ trung ương.

Giảm các thuốc opioid. Nếu thuốc opioid gây ngưng thở khi ngủ trung ương, bác sĩ có thể dần dần giảm liều của những thuốc này.

Áp suất đường thở dương liên tục (CPAP). Phương pháp này, cũng được sử dụng để điều trị ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, liên quan đến việc đeo mast trên mũi trong khi ngủ. Mặt nạ này được gắn vào máy bơm cung cấp khí nén để giữ mở đường hô hấp trên. CPAP có thể ngăn chặn việc đóng đường hô hấp có thể gây ngưng thở khi ngủ trung ương. Cũng như ngừng thở khi ngủ, điều quan trọng là sử dụng thiết bị duy nhất theo chỉ dẫn. Nếu mặt nạ khó chịu hoặc cảm thấy áp lực quá mạnh, nói chuyện với bác sĩ để thực hiện điều chỉnh.

Thở áp lực dương (BPAP). Không giống như CPAP, nguồn cung cấp áp lực ổn định liên tục vào đường hô hấp trên khi thở vào và thở ra, BPAP xây dựng áp suất cao hơn khi hít vào và giảm áp suất thấp hơn khi thở ra. Mục tiêu của điều trị này là để thúc đẩy mô hình thở yếu của ngưng thở khi ngủ trung ương. Một số thiết bị BPAP có thể được thiết lập để tự động thở nếu thiết bị phát hiện không thấy thở sau vài giây.

Hỗ trợ thông khí (ASV). Một số nghiên cứu đã cho thấy thiết bị thông khí này có hiệu quả hơn CPAP hoặc BPAP để điều trị ngưng thở khi ngủ trung ương. ASV được thiết kế để điều trị ngưng thở khi ngủ trung ương và ngưng thở khi ngủ phức tạp bằng cách theo dõi mô hình thở bình thường và lưu trữ các thông tin trong máy tính. Sau khi rơi vào giấc ngủ, máy sử dụng áp lực để điều chỉnh mô hình thở và ngăn chặn tạm dừng thở.

Bổ sung oxy. Sử dụng oxy bổ sung trong khi ngủ có thể giúp đỡ nếu có ngưng thở khi ngủ trung ương. Các hình thức khác nhau của oxy có sẵn cũng như các thiết bị khác để cung cấp oxy cho phổi.

Thuốc. Một số loại thuốc đã được sử dụng để kích thích hô hấp ở những người bị ngưng thở khi ngủ trung ương. Ví dụ, một số bác sĩ kê toa acetazolamide để ngăn chặn ngưng thở khi ngủ trung ương ở độ cao.

Thành viên

Tìm kiếm theo từ khóa
Ví dụ: Amoxicillin, Viêm phế quản, vv

Viêm tiểu phế quản

- Chuyên về y học, dành cho các bác sỹ, dược sỹ, học viên và sinh viên tự đăng bài viết về sức khỏe, trao đổi nội bộ nhằm nâng cao kiến thức phục vụ công việc !

Viêm tiểu phế quản nặng có thể gây thở khó khăn đáng kể, da xanh (xanh tím) - một dấu hiệu oxy không đầy đủ. Điều này đòi hỏi chăm sóc y tế khẩn cấp.

Định nghĩa

Viêm tiểu phế quản là một bệnh phổi phổ biến thường do virus gây ra. Nó thường xảy ra ở trẻ sơ sinh, trẻ dưới 6 tháng tuổi và trong những tháng mùa đông.

Viêm tiểu phế quản bắt đầu với các triệu chứng tương tự bị cảm lạnh thông thường, nhưng sau đó ho và thở khò khè. Các triệu chứng của viêm tiểu phế quản thường kéo dài một hoặc hai tuần và sau đó biến mất.

Trong một số trường hợp, đặc biệt là nếu có vấn đề sức khỏe cơ bản hoặc trẻ sơ sinh đẻ non, viêm tiểu phế quản có thể trở lên nghiêm trọng và phải nhập viện.

Các triệu chứng

Trong vài ngày đầu tiên

Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm tiểu phế quản tương tự như bị cảm lạnh thông thường:

Chảy nước mũi.

Nghẹt mũi.

Sốt nhẹ (không phải luôn luôn hiện diện).

Sau đó, có thể lên đến một tuần

Thở khò khè - thở có vẻ khó hơn hoặc ồn ào khi thở ra.

Thở nhanh hoặc khó thở.

Nhịp tim nhanh.

Ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh, nhiễm trùng thường tự biến mất trong 1 - 2 tuần. Nếu trẻ được sinh ra sớm hoặc có vấn đề sức khỏe cơ bản, chẳng hạn như bệnh tim, tình trạng phổi hoặc hệ thống miễn dịch suy yếu, nhiễm trùng có thể nặng hơn và có thể cần phải nhập viện.

Viêm tiểu phế quản nặng có thể gây khó thở đáng kể, da xanh (xanh tím) - một dấu hiệu không đầy đủ oxy. Điều này đòi hỏi chăm sóc y tế khẩn cấp.

Nếu có nhiều hơn các vấn đề hô hấp, nhỏ hơn 12 tuần tuổi hoặc có yếu tố nguy cơ khác của viêm tiểu phế quản - bao gồm sinh non hoặc bệnh tim hoặc bệnh phổi, liên lạc với bác sĩ.

Nếu gặp bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng sau đây, tìm kiếm nhanh chóng chăm sóc y tế:

Ói mửa.

Thở rất nhanh - thở nông hơn 40 lần một phút.

Da xanh, đặc biệt là xung quanh môi và móng tay (xanh tím).

Kiệt sức do cố gắng để thở hoặc sự cần thiết phải ngồi dậy để thở.

Thờ ơ.

Từ chối uống đủ nước, hoặc hít thở quá nhanh khi ăn hoặc uống.

Nghe âm thanh thở khò khè.

Nguyên nhân

Viêm tiểu phế quản xảy ra khi virus thâm nhập vào hệ thống hô hấp và đến các tiểu phế quản, ống nhỏ nhất của đường hô hấp từ phân nhánh ra khỏi hai ống thở chính (phế quản) trong phổi. Nhiễm virus làm cho phế quản bị sưng phù và bị viêm. Kết quả là, chất nhầy thu thập trong các đường hô hấp, có thể làm cho không khí lưu thông tự do qua phổi khó.

Ở trẻ em nhiều tuổi hơn và người lớn, dấu hiệu và triệu chứng thường nhẹ. Tuy nhiên, tiểu phế quản trẻ sơ sinh hẹp hơn nhiều người lớn và dễ bị tắc, dẫn đến khó thở hơn.

Vi rút hợp bào hô hấp (RSV), một loại virus phổ biến hay gây ra những trường hợp viêm tiểu phế quản ở trẻ em. Phần còn lại được gây ra bởi các tác nhân nhiễm trùng khác, bao gồm virus gây bệnh cúm hoặc cảm lạnh thông thường.

Viêm tiểu phế quản là một tình trạng truyền nhiễm. Nhiễm virus sẽ giống như cảm lạnh hoặc cúm - qua các giọt trong không khí khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc nói chuyện. Cũng có thể mắc viêm tiểu phế quản bằng cách chạm vào đối tượng chia sẻ, chẳng hạn như dụng cụ, khăn, đồ chơi và sau đó chạm vào mắt, mũi hay miệng.

Các yếu tố nguy cơ

Một trong những yếu tố nguy cơ lớn nhất đối với viêm tiểu phế quản ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, bởi vì phổi và hệ thống miễn dịch chưa phát triển đầy đủ. Trai có xu hướng viêm tiểu phế quản thường xuyên hơn con gái.

Các yếu tố khác có liên quan với tăng nguy cơ viêm tiểu phế quản ở trẻ em bao gồm:

Không được bú sữa mẹ - trẻ sơ sinh bú sữa mẹ nhận được lợi ích miễn dịch từ mẹ.

Sinh non.

Bệnh tim hoặc bệnh phổi.

Hệ thống miễn dịch bị yếu.

Tiếp xúc với khói thuốc lá.

Môi trường nhiều trẻ, chẳng hạn như trong một môi trường chăm sóc trẻ em.

Sống trong một môi trường đông đúc.

Có anh, chị, em ruột ở trường học hoặc chăm sóc trẻ và mang sự lây nhiễm.

Các biến chứng

Các biến chứng của viêm tiểu phế quản nặng có thể bao gồm:

Khó thở nặng lên.

Tím tái, tình trạng trong đó da xanh tím hoặc tái mét, đặc biệt là xung quanh môi, gây ra do thiếu oxy.

Mất nước.

Mệt mỏi.

Suy hô hấp nặng.

Nếu xảy ra, có thể cần nhập viện. Suy hô hấp nặng có thể yêu cầu đặt nội khí quản để hỗ trợ hô hấp cho đến khi nhiễm trùng được kiểm soát.

Nếu trẻ sơ sinh được sinh ra sớm, có bệnh tim hoặc bệnh phổi, hoặc có hệ thống miễn dịch bị tổn hại, giám sát chặt chẽ khi bắt đầu có dấu hiệu của viêm tiểu phế quản. Các nhiễm trùng có thể nhanh chóng trở nên nghiêm trọng, và các dấu hiệu và triệu chứng của điều kiện cơ bản có thể trở nên tồi tệ hơn. Trong những trường hợp như vậy, trẻ thường cần phải nhập viện để theo dõi sức khỏe và cung cấp dịch vụ chăm sóc cần thiết.

Không thường xuyên, viêm tiểu phế quản đi kèm bởi một nhiễm trùng phổi như viêm phổi do vi khuẩn. Tái lây nhiễm với RSV sau khi bị bệnh đợt đầu có thể xảy ra nhưng thường là không nghiêm trọng. Đợt viêm tiểu phế quản lặp đi lặp lại có thể đi trước sự phát triển của bệnh hen sau này trong đời, nhưng mối quan hệ giữa hai điều này là không rõ ràng.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Bác sĩ có thể sẽ nghe phổi để kiểm tra tiếng thở khò khè và kéo dài (thở ra). Đây có thể chỉ ra luồng không khí bị cản trở trong các tiểu phế quản. Bác sĩ có thể xem xét các yếu tố nguy cơ cụ thể đối với viêm tiểu phế quản.

Đôi khi các xét nghiệm khác được đề nghị, bao gồm:

Chụp X quang. Trong trường hợp nặng hoặc không chắc chắn, bác sĩ có thể yêu cầu chụp X quang ngực để kiểm tra dấu hiệu của viêm phổi. Bác sĩ cũng có thể kiểm tra sự hiện diện của đối tượng ngoại lai, chẳng hạn như đậu phộng hoặc mảnh nhỏ nhựa có thể đã hít vào.

Kiểm tra chất nhầy. Ngoài ra, bác sĩ có thể thu thập mẫu chất nhờn, bằng cách sử dụng miếng gạc mũi hay thanh quản để kiểm tra virus có thể gây ra viêm tiểu phế quản.

Xét nghiệm máu. Đôi khi, xét nghiệm máu có thể được sử dụng để kiểm tra số lượng tế bào bạch cầu. Sự gia tăng các tế bào máu trắng này thường là một dấu hiệu cho thấy cơ thể đang chiến đấu chống nhiễm trùng. Xét nghiệm máu cũng có thể xác định xem mức độ oxy giảm trong máu. Một thử nghiệm thay thế cho mức độ oxy là đo oxy trên ngón tay. Oxygen là cần thiết để các cơ quan của cơ thể hoạt động, bao gồm cả não.

Bác sĩ cũng có thể hỏi về các dấu hiệu mất nước, đặc biệt là nếu từ chối uống hoặc ăn hoặc đã nôn mửa. Những dấu hiệu của mất nước bao gồm mắt trũng, miệng khô và da nhăn, và ít hoặc không nước tiểu.

Lối sống và các biện pháp khắc phục

Mặc dù có thể không rút ngắn thời gian bệnh, có thể để làm giảm một số triệu chứng và làm cho trẻ thoải mái hơn. Dưới đây là một số mẹo để xem xét:

Độ ẩm không khí. Nếu không khí trong phòng bị khô, độ ẩm mát hoặc sương mù có thể làm ẩm không khí để giảm tắc nghẽn một cách dễ dàng và giảm ho. Hãy chắc chắn giữ độ ẩm sạch sẽ để ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn và nấm mốc. Giữ phòng ấm nhưng không quá nóng, nhiệt quá nhiều có thể làm cho không khí khô hơn. Một cách khác để độ ẩm không khí là chạy một vòi sen nước nóng hoặc tắm trong phòng tắm và để bay hơi nước lên phòng. Ngồi trong phòng giữ trẻ trong khoảng 15 phút có thể giúp giảm bớt cơn ho.

Giữ thẳng đứng. Vị trí thẳng đứng thường làm cho thở dễ dàng hơn. Nếu có kế hoạch để trẻ trong ghế an toàn cho một khoảng thời gian dài, chẳng hạn như cho một giấc ngủ ngắn, chắc chắn đầu của đứa trẻ sẽ không ngả về phía trước, có thể ngăn ngừa ngạt thở.

Cho trẻ uống nước. Để ngăn ngừa mất nước, cung cấp cho rất nhiều chất lỏng để uống, chẳng hạn như nước trái cây, nước hoặc nước gelatin. Trẻ có thể uống chậm hơn bình thường, do tắc nghẽn.

Hãy thử nước muối mũi để giảm bớt tắc nghẽn. Thấm giọt vào một lỗ mũi, sau đó ngay lập tức sử dụng một dụng cụ hút mũi với một ống nhỏ (nhưng không đẩy bóng quá xa). Lặp lại trong lỗ mũi khác. Nếu trẻ đủ lớn, có thể ngồi dạy xì mũi.

Sử dụng thuốc giảm đau OTC.

Duy trì môi trường không khói thuốc. Hút thuốc có thể làm nặng thêm các triệu chứng viêm đường hô hấp. Nếu một thành viên gia đình hút thuốc, hãy hút thuốc bên ngoài nhà và bên ngoài xe.

Phòng chống

Một em bé có thể phát triển viêm tiểu phế quản sau khi nhiễm một loại virus từ một người lớn hoặc trẻ em có cảm lạnh thông thường. Khi bị cảm lạnh, rửa tay trước khi chạm vào em bé, và cân nhắc việc đeo khẩu trang. Thường xuyên rửa tay làm giảm sự lây lan của virus gây viêm tiểu phế quản. Nếu trẻ bị viêm tiểu phế quản, giữ ở nhà cho đến khi lui bệnh hoàn toàn để tránh lây lan cho người khác.

Những cách đơn giản nhưng hiệu quả khác có thể giúp kiềm chế sự lây lan của nhiễm trùng:

Hạn chế tiếp xúc với những người bị sốt hoặc cảm lạnh. Nếu trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ sơ sinh sinh ra sớm, tránh tiếp xúc với người bị cảm lạnh trong hai tháng đầu tiên của cuộc sống.

Giữ cho phòng tắm, nhà bếp, bàn trong nhà sạch sẽ. Hãy đặc biệt cẩn thận nếu một thành viên khác trong gia đình bị cảm lạnh. Để khử trùng các khu vực, có thể sử dụng dung dịch thuốc tẩy và nước, được thực hiện với một muỗng canh thuốc tẩy cho mỗi gallon nước lạnh. Không được trộn lẫn bất kỳ hóa chất khác, vì điều này có thể tạo ra một phản ứng hóa học độc hại. Luôn luôn lưu trữ hỗn hợp tự chế trong bao bì có nhãn ra khỏi tầm với của trẻ nhỏ.

Sử dụng vật dụng chỉ một lần. Bỏ khăn giấy đã dùng kịp thời, sau đó rửa tay hoặc sử dụng chất rửa tay.

Sử dụng ly uống riêng. Không dùng chung ly với những người khác.

Hãy chuẩn bị từ nhà. Chất rửa tay tiện dụng cho chính mình và cho trẻ khi đang xa nhà.

Rửa tay. Thường xuyên rửa tay, cả người lớn và trẻ.

Không có vắc xin

Không có thuốc chủng ngừa viêm tiểu phế quản. Nhưng thuốc palivizumab (Synagis) có thể giúp giảm khả năng RSV gây bệnh nhiễm trùng ở trẻ sơ sinh, cũng như làm giảm sự cần thiết phải nhập viện và giới hạn mức độ nghiêm trọng của bệnh. Palivizumab thường dùng thông qua một liều tiêm duy nhất vào một cơ lớn, chẳng hạn như đùi, mỗi tháng một lần trong mùa RSV cao điểm từ tháng mười đến tháng ba.

Thành viên

Tìm kiếm theo từ khóa
Ví dụ: Amoxicillin, Viêm phế quản, vv